Tăng cường vận động, kiểm soát cân nặng, khám tầm soát định kỳ phát hiện sớm và điều trị bệnh đái tháo đường
Việt Nam hiện đang phải đối mặt với gánh nặng bệnh không lây nhiễm gia tăng nhanh, trong đó có bệnh đái tháo đường (ĐTĐ), tăng huyết áp (THA) và các bệnh rối loạn chuyển hóa... cũng như các biến chứng nguy hiểm xảy ra (tác hại thần kinh mạch máu) khi bệnh nhân không được phát hiện sớm, điều trị tốt. Bệnh ĐTĐ ở nước ta chiếm tỷ lệ 7,3% dân số, trong đó mắc ĐTĐ chưa được chẩn đoán là >60%. Hơn ½ số người trưởng thành chưa từng 1 lần xét nghiệm đường huyết, khả năng tầm soát và phát hiện sớm ĐTĐ rất hạn chế.
Đái tháo đường nằm trong số 10 nguyên nhân gây tử vong và tàn phế hàng đầu, gây ra các biến chứng nặng nề về tim mạch, tổn thương thần kinh, suy thận, nhiễm trùng và gây tổn thương chi có thể dẫn đến phải cắt cụt. ĐTĐ là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng glucose máu do khiếm khuyết về tiết insulin, đề kháng insulin hoặc cả hai. Tăng glucose máu mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh… Theo điều tra của Bệnh viện Nội tiết Trung ương, nước ta có >17 triệu người trưởng thành ở giai đoạn tiền đái tháo đường, trong đó 5 – 10% tiến triển thành đái tháo đường type II mỗi năm. Tiền đái tháo đường không có triệu chứng gì nên đa phần mọi người chủ quan, không tầm soát không phát hiện sớm, không được theo dõi điều trị.
Tiền ĐTĐ: là tình trạng bệnh lý đường máu tăng cao hơn mức bình thường nhưng chưa đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán bệnh ĐTĐ thật sự. Đây là giai đoạn trung gian chuyển tiếp giữa người bình thường và ĐTĐ type II. Theo cập nhật mới nhất phân loại bệnh tật lần thứ 10 Bộ Y tế công nhận mã bệnh cho tiền ĐTĐ là R73.0. Tiền đái tháo đường không được theo dõi điều trị thì sau 5 -10 năm tiến triển thành đái tháo đường type II thật sự. Mỗi năm có khoảng 5 – 10% bệnh nhân tiền ĐTĐ tiến triển thành đái tháo đường type II. Trong 100 ca tiền ĐTĐ sẽ có 70 – 80% tiến triển thành đái tháo đường type II.
Tiêu chuẩn chẩn đoán tiền ĐTĐ khi có 1 trong các tiêu chí sau: Đường máu lúc đói 6,1 – 6,9mmol/l hoặc đường máu 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp glucose 7,8 – 11mmol/l hoặc có HbA1C 5,7 – 6,4%
Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ khi có 1 trong các tiêu chí sau: đường máu lúc đói >7mmol/l hoặc đường máu 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp glucose >11,1mmol/l hoặc HbA1C >6,5% hoặc đường máu bất kỳ >11,1mmol/l và có kèm uống nhiều tiểu nhiều sụt cân.
Khám, tầm soát phát hiện sớm tiền ĐTĐ và điều trị tiền ĐTĐ khi nào:
- Khám sức khỏe định kỳ mỗi năm 1 lần, xét nghiệm đường máu, HbA1C, mỡ máu…
- Đặc biệt quan tâm với các trường hợp: Nguy cơ kèm theo rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp, béo phì, nghiện hút thuốc lá… ; các yếu tố nguy cơ chủ quan có thể thay đổi: lối sống tĩnh tại không tập luyện rèn luyện thể lực, chế độ ăn không phù hợp, thừa cân BMI >25; những yếu tố nguy cơ khách quan: yếu tố gia đình (có cha mẹ hoặc cả hai bị bệnh ĐTĐ, phụ nữ có hội chứng buồng trứng đa nang, tiểu đường thai kỳ…) là các đối tượng nguy cơ cao khuyến cáo sàng lọc ĐTĐ định kỳ hàng năm.
Điều trị tiền ĐTĐ: có tiêu chuẩn cụ thể để theo dõi và điều trị sớm tiền ĐTĐ nhằm làm chậm tiến triển của bệnh, ngăn nguy cơ biến chứng (tiền đái tháo đường cũng có nguy cơ biến chứng như đái tháo đường type II), giảm chi phí và gánh nặng điều trị về sau.
- Tiền ĐTĐ nếu có 1 trong các tiêu chuẩn kèm theo như sau thì phải điều trị ngay: BMI> 25, tuổi <60 hoặc nữ có tiền sử đái tháo đường thai kỳ hoặc rối loạn dung nạp glucose, mỡ máu tăng cao, HbA1C >6%, có tăng huyết áp hoặc tiền sử bố mẹ đều mắc ĐTĐ.
- Nếu không có các tiêu chuẩn trên, cần theo dõi một thời gian, áp dụng các biện pháp có lợi như thay đổi lối sống (tăng cường hoạt động tránh tĩnh tại), chế độ ăn tiết chế phù hợp, rèn luyện thể dục thể lực, nếu sau 3 tháng xét nghiệm lại đường máu có xu hướng tăng theo thời gian, HbA1C > 5,7%, … thì cũng phải bắt đầu điều trị thuốc.
Đái tháo đường type I: do quá trình phá hủy tế bào beta ở tuyến tụy do tự miễn và không sản sinh insulin, đây là phản ứng tự miễn dịch của cơ thể (khi các tế bào miễn dịch tự tấn công các tế bào beta tụy tạng). Insulin bị thiếu hụt dẫn đến đường trong máu tăng lên do không được đưa vào tế bào để sử dụng. Một số trường hợp bệnh tiểu đường type I không xuất hiện yếu tố tự miễn và thường được cho là vô căn. Bệnh học của sự phá hủy tế bào beta tự miễn được hiểu biết không hoàn toàn, liên quan giữa gen nhạy cảm, tự kháng nguyên và yếu tố môi trường. Khoảng 5-10% những người mắc bệnh đái tháo đường thuộc type I.
- Các triệu chứng của bệnh đái tháo đường type I phát triển nhanh chóng, triệu chứng rõ rệt và thường được chẩn đoán phát hiện ở trẻ em, thanh thiếu niên, thanh niên. Cách điều trị duy nhất của tiểu đường type I là tiêm insulin mỗi ngày.
Đái tháo đường tuýp II: cơ thể kháng insulin và làm tăng lượng đường trong máu. Khoảng 90-95% bệnh nhân đái tháo đường thuộc type II. Các mô đích ở cơ, gan có tình trạng kháng với insulin, insulin tiết nhiều vẫn không đủ, lâu dần gây suy tuyến tụy dẫn đến giảm tiết insulin. Gan kháng insulin dẫn tới không có khả năng ức chế gan sản xuất glucose, và kháng insulin ngoại vi làm giảm nhập glucose ở ngoại vi; càng làm tăng đường huyết lúc đói và sau ăn. Thường nồng độ insulin rất cao, đặc biệt giai đoạn sớm của bệnh. Giai đoạn muộn của đái tháo đường, sản xuất insulin sẽ giảm, và đường máu tăng trầm trọng. Bệnh thường phát triển ở người lớn và trở nên phổ biến hơn khi tuổi càng cao. Có tới 1/3 số người lớn > 65 tuổi bị suy giảm khả năng dung nạp glucose. Ở người già, nồng độ glucose máu cao sau khi ăn hơn ở người trẻ, đặc biệt sau bữa ăn có nhiều lượng carbonhydrate (tinh bột, đường). Nồng độ glucose cũng có thể trở lại bình thường kéo dài hơn, một phần vì tăng tích lũy mỡ ở nội tạng và thành bụng, kèm giảm khối lượng cơ.
- Bệnh ĐTĐ type II hiện nay có thể gặp ở người rất trẻ do tình trạng béo phì. Trong giai đoạn đầu bệnh không biểu hiện bất kỳ triệu chứng nào, vì vậy những người có nguy cơ cao cần kiểm tra lượng đường trong máu định kỳ. Bệnh ĐTĐ type II có thể được ngăn ngừa hoặc trì hoãn thông qua việc duy trì lối sống lành mạnh như: Giảm cân, ăn thực phẩm lành mạnh, tập thể dục thể thao... Béo phì và tăng cân có vai trò quan trọng của kháng insulin ở bệnh nhân ĐTĐ type II. Béo phì, mô mỡ tích tụ khắp nơi, chính tế bào mỡ có chức năng như một cơ quan nội tiết, giải phóng nhiều yếu tố (adipocytokine) có lợi (adiponectin) và bất lợi (yếu tố u-alpha, interleukin-6, leptin, resistin) ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa glucose, gây kháng insulin, tăng đường máu.
Đái tháo đường thai kỳ: xảy ra ở phụ nữ mang thai chưa bao giờ mắc ĐTĐ trước đây. Mặc dù tình trạng này thường biến mất sau khi sinh, nhưng nó làm tăng nguy cơ phát triển ĐTĐ tuýp 2 sau này cho cả mẹ và con. Trẻ em sinh ra từ mẹ có ĐTĐ thai kỳ cũng có nguy cơ bị béo phì cao hơn, và rồi lại dễ mắc bệnh ĐTĐ.
Các biến chứng bệnh ĐTĐ:
- Đường huyết tăng cao kéo dài nhiều năm dẫn tới các biến chứng mạch máu, ảnh hưởng chủ yếu các mạch máu nhỏ (vi mạch), mạch lớn (mạch máu lớn), hoặc cả hai: Bệnh võng mạc, bệnh lý ở thận; bệnh lý thần kinh…
- Bệnh vi mạch làm giảm khả năng lành vết thương, ngay cả những vết rách nhỏ trên da cũng có thể phát triển thành vết loét sâu hơn và dễ bị nhiễm trùng, đặc biệt là ở chi dưới, nhiễm trùng phải đoạn chi. Kiểm soát chặt chẽ lượng glucose máu có thể ngăn ngừa hoặc trì hoãn nhiều biến chứng nhiễm trùng nhưng cũng không đảo ngược được các tình trạng viêm hoại tử một khi đã hình thành. Bệnh nhân ĐTĐ đặc biệt dễ bị nhiễm trùng do vi khuẩn và do nấm.
- Bệnh mạch máu lớn: gây xơ vữa động mạch, có thể dẫn tới cơn đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim; thiếu máu não thoáng qua và đột quị; bệnh động mạch ngoại biên…
Mục tiêu điều trị bệnh ĐTĐ: đây là bệnh lý mạn tính, không thể chữa khỏi hoàn toàn, việc điều trị bệnh mục tiêu chính là kiểm soát chỉ số HbA1c (<6,5% ) và chỉ số đường huyết về mức an toàn (từ 4,4 – 6,4mmol/l hay 70 – 100mg/dL). Song song với dùng thuốc, mỗi người cần thực hiện thêm các nội dung sau và cắt bỏ hoàn toàn các yếu tố nguy cơ:
- Chế độ ăn uống hợp lý, khoa học: Chế độ ăn quyết định rất nhiều đến sự kiểm soát đường huyết. Ăn uống cân đối dưỡng chất không thừa, không thiếu cho cơ thể sẽ hạn chế được nguy cơ tăng hay giảm đường huyết, không được bỏ bữa, ngay cả khi không muốn ăn, ăn uống đúng giờ, không nhịn quá mức, không ăn quá no dù bữa ăn có ngon miệng, hạn chế các thức ăn có nhiều dầu mỡ hay những thực phẩm có nhiều đường nhiều muối, nên tăng cường các thức ăn ít năng lượng như rau xanh, củ quả, hạt nguyên cám, các loại đậu, trái cây sạch…
- Thường xuyên tập luyện thể dục thể thao: thể dục giúp tiêu thụ đường trong máu, có tác dụng làm giảm đường huyết, tăng cường sức khỏe cơ bắp, tăng sự trao đổi chất và giảm sự đề kháng insulin. Nên hoạt động thể lực đều đặn, ít nhất là 30 phút/ ngày và không nên nghỉ quá 2 ngày liên liếp.
- Tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ: uống thuốc đều đặn, đúng giờ, đúng liều lượng.
- Vệ sinh cá nhân sạch sẽ: nên chăm sóc răng miệng sạch sẽ, chăm sóc da, lau khô từng kẽ ngón sau khi vệ sinh hay tắm, cắt ngắn móng tay, móng chân nhưng không cắt quá sát, không cắt khóe.
- Giữ tinh thần thoải mái, lạc quan, sẵn sàng sống chung hòa bình với bệnh
- Giữ cân nặng hợp lý: BMI từ 18 - 22
- Từ bỏ các thói quen xấu: bỏ hút thuốc lá, bỏ rượu bia, ngủ sớm trước 10 giờ đêm và ngủ đủ giấc, đủ 7-8 tiếng mỗi đêm.
- Theo dõi, kiểm tra đường huyết thường xuyên
Thực hiện kiểm tra đường huyết thường xuyên: đường huyết đói buổi sáng, đường huyết sau ăn 2 giờ giúp theo dõi được những biến động của đường huyết và có những biện pháp kiểm soát kịp thời, từ đó mới duy trì đường huyết ổn định.
- Thường xuyên thăm khám và tư vấn bác sĩ./..